5 thành ngữ Tam Quốc ai cũng dùng: 4 câu là hư cấu, chỉ 1 câu là sự thật lịch sử

Tam Quốc Diễn Nghĩa đã ngấm vào ngôn ngữ đời thường sâu đến mức người ta đọc thuộc lòng vài câu thành ngữ mà không hề biết chúng đến từ đâu. Điều thú vị là nếu lật lại sử sách, phần lớn những câu cửa miệng quen thuộc nhất thật ra chưa bao giờ thực sự diễn ra. Bài viết này sẽ mở từng lớp khói lửa Xích Bích, từng cánh cửa tranh Long Trung để xem đâu là sự thật, đâu là phần hư cấu mà La Quán Trung đã thêm thắt suốt hơn 600 năm qua

Mục lục
    Add a header to begin generating the table of contents

    Vì sao một bộ tiểu thuyết thế kỷ 14 lại vẫn xuất hiện trong những câu nói của người hiện đại
    Tam Quốc Diễn Nghĩa (1994)

    Tam Quốc Diễn Nghĩa (1994) - bản truyền hình CCTV đã định hình hình tượng các nhân vật trong tâm thức người xem suốt ba thập kỷ, và là bản phim mà phần lớn các thành ngữ được phổ biến hóa qua truyền hình

    Tam Quốc Diễn Nghĩa của La Quán Trung được giới nghiên cứu mô tả bằng câu nổi tiếng "thất thực tam hư", nghĩa là bảy phần thật ba phần hư. Nhưng phần "ba hư" ấy lại chính là phần gây ấn tượng mạnh nhất, đẹp nhất, kịch tính nhất, và vì vậy mà nó tồn tại lâu hơn cả phần sự thật khô khan trong sử sách. Trần Thọ thời Tây Tấn viết Tam Quốc Chí một cách súc tích đến mức nhiều sự kiện chỉ vỏn vẹn vài chữ. Bùi Tùng Chi sau này chú giải, bổ sung thêm nhiều ghi chép từ Hán Tấn Xuân Thu, Ngụy Lược, Cửu Châu Xuân Thu. Nhưng phải đến khi La Quán Trung viết tiểu thuyết, các nhân vật mới trở nên sống động và bắt đầu sống cuộc đời của riêng họ.

    Lỗ Tấn từng nhận xét sắc bén rằng Tam Quốc Diễn Nghĩa tả "Gia Cát Lượng tài trí đến mức gần như thần quái". Điều này dẫn đến hệ quả là nhiều câu thành ngữ tưởng chừng đến từ lịch sử thực tế, lại là sản phẩm của trí tưởng tượng văn chương. Khi đọc tiếp, bạn sẽ thấy bốn trong năm câu thành ngữ phổ biến nhất thuộc về phần "tam hư" ấy.

    Hai thành ngữ từ trận Xích Bích đều là kịch bản của La Quán Trung
    Chu Du và Gia Cát Lượng. Bản Tam Quốc Diễn Nghĩa 1994 - CCTV

    Chu Du và Gia Cát Lượng. Bản Tam Quốc Diễn Nghĩa 1994 - CCTV

    Vạn sự đầy đủ, chỉ thiếu gió ĐôngTrời đã sinh Du, sao còn sinh Lượng đều xuất hiện trong cùng giai đoạn Xích Bích, cùng một cặp nhân vật Chu Du và Gia Cát Lượng. Và cả hai đều là sản phẩm văn học chứ không phải lịch sử.

    Câu thứ nhất xuất hiện ở hồi 49 Tam Quốc Diễn Nghĩa. Theo Bách khoa toàn thư Baidu, Khổng Minh viết mười sáu chữ trong lòng bàn tay Chu Du để chỉ ra điều khiến đại đô đốc nằm liệt giường, đó là thiếu gió đông để dùng kế hỏa công đốt thuyền Tào Tháo. Toàn bộ chi tiết Gia Cát Lượng lập đàn Thất Tinh, đốt hương khấn vái, mượn được ba ngày ba đêm gió đông là tình tiết hư cấu hoàn toàn. Trong sử thật, Chu Du chỉ huy trận Xích Bích một mình, dựa vào hiểu biết về gió mùa Đông Á chứ không cần ai phù phép. Gia Cát Lượng khi ấy 27 tuổi, chỉ là sứ giả ngoại giao của Lưu Bị tại đại bản doanh Đông Ngô.

    Câu thứ hai còn bị bóp méo nặng hơn. Tình tiết Chu Du tức hộc máu rồi than thở câu để đời này hoàn toàn do La Quán Trung dựng nên để tô đậm trí tuệ Gia Cát Lượng. Sử thật ghi rõ Chu Du là người cực kỳ rộng lượng, hào sảng. Lão tướng Trình Phổ ban đầu không phục một chỉ huy trẻ tuổi, từng nhiều lần làm khó dễ, nhưng cuối cùng phải thốt lên câu nổi tiếng "Giao thiệp với Chu Công Cẩn như uống rượu nồng, không biết tự mình say từ lúc nào". Chu Du qua đời vì bệnh khi đang dẫn quân chinh chiến, lúc 36 tuổi, hoàn toàn không liên quan gì đến chuyện bị Gia Cát Lượng "tam khí". Việc khắc họa Chu Du nhỏ nhen chỉ là thủ pháp nghệ thuật để nâng tầm Khổng Minh. POV thú vị ở đây là Tam Quốc Diễn Nghĩa thực chất đã thực hiện một vụ "ám sát hình tượng" kéo dài 600 năm với một trong những vị tướng tài hoa bậc nhất thời Tam Quốc.

    Hai thành ngữ về Gia Cát Lượng mà giới sử học vẫn còn tranh luận

    Ba lần đến nhà tranhCúc cung tận tụy đều gắn với Khổng Minh, đều xuất phát từ văn bản gọi là "Xuất Sư Biểu", và cả hai đều có những vết hồ nghi mà ít người ngoài giới chuyên môn để ý.

    Ba lần đến nhà tranh nói về giai đoạn đầu, khi Lưu Bị phải ba lần lặn lội đến túp lều tranh ở Long Trung để mời Gia Cát Lượng xuống núi giúp mình. Điển tích này ca ngợi sự kiên trì, trọng dụng nhân tài của Lưu Bị và tài năng xuất chúng của Khổng Minh. Trần Thọ chấp nhận chi tiết này khi viết Tam Quốc Chí. Nhưng Ngụy Lược của Ngư Hoạn và Cửu Châu Xuân Thu của Tư Mã Bưu đều chép rằng: Vào thời điểm đó, Lưu Bị đóng quân ở Phàn Thành, Khổng Minh thấy Tào Tháo sắp đánh Kinh Châu nên đã đến gặp Lưu Bị trước. Lưu Bị ban đầu coi nhẹ chàng trai 27 tuổi, chỉ sau khi nghe Khổng Minh phân tích thời cuộc mới đãi như khách quý. Một số học giả cho rằng Xuất Sư Biểu được viết hai mươi năm sau, khi Lưu Bị, Quan Vũ, Trương Phi đã chết hết, nên Gia Cát Lượng có thể đã tự kể lại theo phiên bản có lợi cho thanh thế của ông và cho lẽ chính danh của Thục Hán.

    Cúc cung tận tụy, đến chết mới thôi còn rắc rối hơn. Câu này nằm trong Hậu Xuất Sư Biểu, nhưng theo Wikipedia tiếng Trungbài phân tích trên Zhihu, văn bản này có nhiều khả năng là ngụy tác. Trần Thọ không đưa Hậu Xuất Sư Biểu vào tập văn của Gia Cát Lượng. Bùi Tùng Chi khi chú giải đã thẳng thắn ghi rằng văn bản này không nằm trong Lượng Tập, mà xuất hiện trong Mặc Ký của Trương Nghiễm bên Đông Ngô, một điều khá bất thường. Nội dung còn có chi tiết sai lệch như nhắc đến cái chết của Triệu Vân không khớp với năm mất thực tế. Điểm thú vị là dù có thể không thực sự tới từ Khổng Minh, hai câu này đã hòa làm một với hình tượng ông trong tâm thức người Á Đông. Đây là minh chứng cho việc văn hóa có khả năng "kiến tạo" sự thật theo cách rất riêng.

    Gia Cát Lượng – Đường Quốc Cường

    Gia Cát Lượng – Đường Quốc Cường

    Câu duy nhất thực sự bước ra từ máu và lửa của lịch sử

    Trong năm câu, Lòng dạ của Tư Mã Chiêu, người đi đường đều biết là câu duy nhất có gốc gác lịch sử rõ ràng và đẫm máu. Bách khoa toàn thư Baidu ghi rõ câu này xuất hiện trong Hán Tấn Xuân Thu của Tập Tạc Xỉ thời Đông Tấn, được Bùi Tùng Chi đưa vào chú giải Tam Quốc Chí phần Cao Quý Hương Công truyện.

    Năm 260, hoàng đế trẻ Tào Mao đã chứng kiến Tư Mã Chiêu lấn quyền đến mức ông không thể chịu đựng thêm. Ông gọi ba cận thần Vương Trầm, Vương Kinh, Vương Nghiệp đến và nói câu nói nổi tiếng ấy, kèm theo lời tuyên bố quyết liệt rằng thà liều chết chứ không chịu để ai phế truất. Tào Mao tự mình dẫn vài trăm thị vệ và gia nô xông ra đánh Tư Mã Chiêu. Kết cục bi thảm không thể tránh khỏi, ông bị tướng Thành Tế đâm chết ngay tại cửa Nam của hoàng cung, theo lệnh ngầm của thân tín Tư Mã Chiêu là Giả Sung. Sau đó Tư Mã Chiêu giết Thành Tế làm vật tế thần, ép Quách thái hậu ra chiếu vu cho Tào Mao tội bất hiếu, hạ ông xuống hàng dân thường rồi mai táng theo lễ thường dân. Năm năm sau, con trai Tư Mã Chiêu là Tư Mã Viêm chính thức cướp ngôi nhà Ngụy lập ra Tây Tấn.

    Trong khi bốn câu thành ngữ trên là sản phẩm của trí tưởng tượng nghệ thuật, câu cuối cùng lại được sinh ra từ chính tiếng thét cuối cùng của một hoàng đế bị giết ngay khi đang cố giành lại quyền lực. Có lẽ đó cũng là lý do nó vẫn giữ được sức nặng đặc biệt trong tiếng Trung và tiếng Việt hiện đại, thường dùng để chỉ những âm mưu không cần che giấu nữa. Khi xem các bộ phim Tam Quốc trên Tencent Video hay iQiyi, để ý các câu thoại này, bạn sẽ thấy ranh giới giữa văn chương và lịch sử mỏng manh đến nhường nào, và đó cũng là lý do văn hóa Trung Hoa đầy sức cuốn hút đến vậy.