Lang quân, tướng công, phu quân và cú lừa dịch thuật lớn nhất của phim, truyện cổ trang Trung Quốc
Trước nhà Tống, khi gọi chồng còn nghe ra mùi thanh xuân và bình đẳng
Trước thời Tống, cách gọi chồng của người Trung Quốc bình đẳng đến mức bất ngờ. Sớm nhất là 良人 (lương nhân), theo phân tích trên Sohu, vốn được dùng cho cả vợ lẫn chồng. Vợ gọi chồng là "lương nhân", chồng cũng có thể gọi vợ là "lương nhân". Một từ duy nhất, không phân biệt giới tính, gợi nên một xã hội tiền Tần nơi mà vai trò vợ chồng còn khá ngang nhau, ít nhất là trên đầu môi.
Đến đời Đường, hai từ "lang" và "lang quân" cũng trở nên phổ biến. Chữ "lang" trong câu thơ Lý Bạch "lang kỵ trúc mã lai" là cách gọi đầy thân mật, gần với cách phụ nữ hiện đại nói "anh ấy". Đặc biệt, theo Bách Khoa Bách Độ (Baike Baidu), đến thời Đường từ "lang quân" còn được dùng để gọi quan lại từ lục phẩm trở xuống và các tân tiến sĩ. Đây cũng là gốc của hai chữ "tân lang" mà tiếng Việt vẫn dùng cho chú rể. Khi một thiếu phụ thời Đường gọi chàng trai là "lang quân", trong từ đó có cả lãng mạn lẫn niềm hy vọng vào tương lai khoa cử của chàng.
Vấn đề là khi phụ đề Việt biến hết thành "phu quân", người xem mất sạch không khí Đường thi tươi mới ấy. "Phu quân" là từ Hán Việt mang sắc thái trang trọng, hơi cứng và hơi xa cách. Còn "lang quân" ở thời Đường gần với "chàng" hơn, có hơi thở của một người vợ trẻ vừa kính trọng vừa âu yếm.
Nhà Tống và cú lừa lớn nhất của phim cổ trang về hai chữ "tướng công"
Đây có lẽ là sai lầm thú vị nhất trong nghề dịch phim & truyện cổ trang. Trong vô số bộ phim bối cảnh Tống, người vợ vẫn ngọt ngào gọi "tướng công", phụ đề Việt giữ nguyên "tướng công" hoặc đổi thành "phu quân", và không ai đặt câu hỏi. Nhưng theo nhà nghiên cứu sử Tống Ngô Câu trên Nho Gia Võng, trong toàn bộ thời Tống, từ "tướng công" chưa từng được dùng để gọi chồng. Đó là tôn xưng dành riêng cho tể tướng và quan đại thần. Một người phụ nữ thời Tống gọi chồng là "tướng công", nếu nghe được, người ngoài sẽ tưởng nàng là phu nhân của thừa tướng đương triều.
Trang Trung Tân xã (hãng thông tấn lớn thứ hai của Trung Quốc, chỉ sau Tân Hoa Xã) còn có hẳn bài bình "Thần Điêu Đại Hiệp" bản 2014, chỉ ra rằng cảnh Dương Quá tự xưng "tướng công" với Lục Vô Song trong bối cảnh Tống là sai lịch sử. Phải đợi tới khoảng một trăm năm sau, tức cuối Nam Tống và rõ ràng hơn vào thời Minh Thanh, hai chữ này mới rớt giá thành cách gọi chồng thông thường.Vậy thời Tống vợ gọi chồng là gì?
Câu trả lời là 官人 (quan nhân). Theo cùng bài của Ngô Câu, dân thường thời Tống quen gọi quan lại là "quan nhân", và từ đó lan vào trong nhà. Đây là sản phẩm rất riêng của xã hội Tống, nơi chế độ khoa cử bùng nổ và tầng lớp sĩ đại phu được trọng vọng đặc biệt. Khi Bạch Tố Trinh trong "Tân Bạch Nương Tử Truyền Kỳ" gọi Hứa Tiên là "quan nhân", nàng đang dùng đúng cách xưng hô của một người vợ thị dân thời Tống.
Thời Minh Thanh, khi "lão gia" biến vợ thành người làm và bí mật ngầm của "tướng công"
Đến đời Minh Thanh, cách gọi chồng phản ánh một xã hội tôn ti rạch ròi hơn nhiều. Sau thời Minh, từ "tướng công" biến chất nặng. Một mặt, do số quan lại lạm phát và chế độ tể tướng bị suy yếu dưới quyền hoàng đế Minh Thanh, "tướng công" rớt giá xuống thành cách gọi tôn trọng dành cho sinh đồ (người đi thi cử) chưa làm quan, sau đó trượt tiếp thành cách gọi chồng trong tuồng Bắc Kinh, Việt kịch và Hoàng Mai hí.
Theo Baidu, vào thời Thanh, "tướng công" còn mang nét nghĩa khá tế nhị, dùng để gọi các nam đán trong giới hí khúc và đàn ông bán hoa ở khu vực Bắc Kinh và Thiên Tân, được ghi chép trong "Nhi Nữ Anh Hùng Truyện" và "Nhị Thập Niên Mục Đỗ Chi Quái Hiện Trạng". Nói cách khác, gọi chồng là "tướng công" thời cuối Thanh không phải là điều ai cũng dám hồn nhiên thốt ra trước người ngoài.
Trong khi đó, 老爷 (lão gia) thuộc về một thế giới khác hẳn, chỉ được dùng trong các nhà quan và gia đình giàu có. Trong căn nhà đó, vợ và đầy tớ cùng dùng một từ để gọi người đàn ông trụ cột. Khi một bà phu nhân nhà quan thời Thanh thưa "lão gia", thực chất nàng đang đặt mình vào một vị trí gần với người quản gia hơn là một người vợ ngang hàng. Lớp nghĩa tôn ti gia tộc thời Thanh này không thể chuyển sang "phu quân" mà không bị làm phẳng. Đây là lý do người dịch tinh tế phải hiểu rằng mỗi cách xưng hô là một dấu vân tay của thời đại. "Tướng công" thời Thanh, với cả sắc thái rớt giá lẫn vết tích hí khúc, không thể đứng cùng "quan nhân" thời Tống vốn còn ánh lên ánh sáng của tầng lớp sĩ đại phu.
"Đương gia" và
Có một cách gọi chồng mà phim ngôn tình hầu như không bao giờ chạm tới, nhưng lại quan trọng nhất nếu muốn dịch tử tế, đó là 当家 (đương gia). Cụm này không gắn với triều đại cụ thể nào mà thuộc về thế giới làng quê, nông dân và thị dân nhỏ. Vợ gọi chồng là "đương gia" có nghĩa là "người làm chủ nhà", người ra quyết định kinh tế trong gia đình. Từ này lạnh hơn lang quân, ấm hơn lão gia, và thường được dùng khi nói về chồng với người ngoài chứ ít khi gọi trực diện trước mặt.
Một bài liệt kê 20 cách gọi chồng trong tiếng Hán hiện đại trên Sohu còn nhắc thêm hàng loạt biến thể như "miệng ăn đó của nhà tôi", "cha đứa trẻ", tất cả đều là tiếng nói của tầng lớp bình dân. Trong các bộ phim đề tài nông thôn như "Bạch Lộc Nguyên", nếu dịch giả Việt Nam chuyển "đương gia" thành "phu quân", lập tức bộ phim trở nên kệch cỡm, một bà nông dân ăn nói như công chúa cung đình.
Cách xưng hô không bao giờ chỉ là một từ mà còn là lát cắt thời gian, chỉ số giai cấp và tín hiệu quan hệ vợ chồng cùng lúc. Mỗi cách "gọi chồng" là một di sản văn hoá nhỏ, đáng được dịch đúng và dịch tinh.




